Đồng Nai la một tỉnh ở miền Đông Nam bộ có lịch sử lâu đời . Lịch sử khai phá vùng đất Đồng Nai là một bộ phận của lịch sử khai phá vùng đất Nam bộ . Nhân dân Đồng Nai cùng với cả nước ra sức khai phá , xây dựng và phát triển thành khu vực có nền kinh tế năng động , hiện nay Đồng Nai là một trong những Tỉnh đi đầu trong chủ trương ,chính sách công nghiệp hoá – hiện đại hoá của đất nước .
Từ cuối thế kỷ XVI , đầu thế kỷ XVII người Việt bắt đầu có những đợt di cư vào vùng đất Đồng Nai . Tiến trình nhập cư của cư dân người Việt vào đất Đồng Nai – Gia Định đã diễn ra liên tục trong suốt gần một thế kỷ . Đến năm 1698 ,khi Nguyễn Hữu Cảnh theo lệnh của Nguyễn Phúc Chu vào kinh lược ,thiết lập hệ thống quản lý hành chính ,tổ chức việc khai thác đất đai và ổn định trật tự xã hội .
Cùng với việc nhập cư của người Việt , một nhóm người Hoa do Trần Thượng Xuyên dẫn đầu cũng đến khai phá ở vùng đất Cù lao Phố , xây dựng thương cảng đầu tiên của vùng đất phương Nam . Cuối thế kỷ XVIII Nông Nại đại phố là một đô thị xuất hiện sớm trên vùng đất Đồng Nai .
Với chính sách khai khẩn đất hoang tích cực của chúa Nguyễn và các vua triều Nguyễn làm cho Đồng Nai nhanh chóng trở thành vùng đất trù phú , ruộng vườn bát ngát , vườn cây trĩu quả , phố chợ đông đúc .
Cuối thế kỷ XIX , sau khi chiếm Sài Gòn – Gia Định và vùng đất Đồng Nai ,thực dân Pháp đã thực hiện chính sách “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh ” bằng cách khai phá vùng đất Đồng Nai để trồng các loại cây nông nghiệp và sau đó la các loại cây công nghiệp nhiệt đới . Vùng đất đỏ bazan Đồng Nai đã trở thành vựa cao su cho ngành công nghiệp ô tô của thực dân Pháp . Chính sách lập đồn điền của thực dân Pháp đã làm cho đất đai vùng Đồng Nai nhanh chóng thay đổi , có nhiều loại giống cây trồng mới được nhập về từ nước ngoài .
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng , nhân dân Đồng Nai đã nhanh chóng khắc phục hậu quả chiến tranh , thực hiện nhiều chủ trương của Tỉnh khai thác điều kiện tự nhiên hiện có của tỉnh nhà , nhanh chóng đưa tỉnh Đồng Nai trở thành một Tỉnh có có nền công nghiệp hiện đại .
Nội dung đề tài sẽ giới thiệu Lịch sử khai phá vùng đất Đồng Nai qua các giai đoạn lịch sử , từ khi con người xuất hiện cho đến ngày nay .Tuy nhiên, do hạn chế quy mô đề tài chỉ xin nêu lên những nét khái quát trong tiến trình lịch sử khẩn hoang của Đồng Nai .
Đồng Nai có một quá khứ sâu thẳm và cực kỳ lý thú , lòng đất Đồng Nai bảo tồn nhiều dấu vết cuộc sống con người nguyên thuỷ . Nhờ vào những phát hiện khảo cổ học từ trước đến nay của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước . Đồng Nai nói riêng , lưu vực sông Đồng Nai nói chung được biết đến với tư cách một vùng đất từng chứng kiến sự hình thành , phát triển , dao động của những cộng đồng người cổ .
Vùng đất Đồng Nai có thể xem là một chiếc nôi của buổi bình minh xã hội loài người . Sự xuất hiện người cổ với nền văn minh tiền sử phát triển đã đánh dấu một thời kỳ lịch sử quan trọng trong tiến trình lịch sử của nhân loại .
Hàng loạt các địa điểm trên vùng đất Đồng Nai như : Dầu Giây , An Lộc , Hàng Gòn , Cam Tiêm , Bình Lộc , Núi Đất , Phú Quý …đã phát hiện những công cụ lao động của người cổ . Đó là những hiện vật thời đồ đá cũ , thời đại lịch sử đầu tiên và chiếm khoãng thời gian dài nhất trong xã hội loài người . Khởi điểm của thời kỳ nầy đựơc kể từ khi con người biết chế tạo công cụ đầu tiên .
Bộ sưu tập hiện vật phát hiện ở Xuân Lộc và các vùng phụ cận hầu hết là những công cụ lao động của người cổ , nằm rãi rác trên dung nham bề mặt địa tầng văn hoá . Đó là những rìu tay , mũi nhọn , hòn ném , nạo , công cụ “tam diện ”, mãnh tước … được làm từ đá Bazan , loại chất liệu rất phong phú ở Đồng Nai do sự tạo thanh địa chất . Đặc biệt là những công cụ được ghè đẽo hai mặt hình hạnh nhân đươc xem là công cụ được người vượn cổ chế tác cẩn thận , có sự đầu tư nhiều công sức . Bằng những công cụ nầy , người cổ Đồng Nai đã đặt dấu ấn của mình trong lịch sử phát triển chung của nhân loại .
Một khoảng thời gian khá dài từ khi xuất hiện , vượt qua bao khó khăn , các lớp cư dân cổ Đồng Nai dần dần hoàn thiện mình để bước vào những chặng đường phát triển mới và bắt đầu đặt dấu ấn quan trọng trong việc sáng tạo , chinh phục trên vùng đất Đồng Nai .
Từ thực tế săn bắt và hái lượm với những chiếc rìu , những vũ khí được chế tác thô sơ của hàng triệu năm đá cũ . Người cổ Đồng Nai đã biết làm nên những công cụ hiệu quả hơn , đáp ứng như cầu sản xuất . Họ biêt làm đồ gốm , chăn nuôi và đặc biệt là sự sáng tạo vĩ đại : Nông nghiệp , phát minh ra trồng trọt là một yếu tố quan trọng nhất ở thời kỳ đá mới của người cổ Đồng Nai , nó làm chuyển biến cơ bản trong phương thức tìm kiếm thức ăn của họ , chuyển đời sống kinh tế phụ thuộc tước đoạt thiên nhiên sang thời đại sản xuất , thích ứng , biến đổi thiên nhiên.
Từ sau văn hoá đá mới , lưu vực sông Đồng Nai có sự bùng nổ lớn về dân số . Sự phát triển nông nghiệp trở thành cơ sở vững chắc về kinh tế đã đưa tổ chức xã hội cư dân cổ Đồng Nai chuyển biến lớn . Họ đã định cư theo làng và bắt đầu có sự phân công lao động .
Những di chỉ như Cái Vạn , Bình Đa , Phứớc Tân , Bến Đò , Gò Mít , Đồi Xoài , Trảng Bom , Sông Ray , cù lao Rùa , Núi Gốm … được kiểm tra , ,khai quật , xác định niên đại từ 3000 – 4000 năm cách ngày nay cho thấy người cổ Đồng Nai đã định hình cụm dân cư – làng cư trú : làng ven đồi , làng ven sông , làng ven biển , và các công trường chuyên chế tác công cụ sản xuất đáp ứng như cầu lao động tăng nhanh trong vùng .
Khoãng cách đây 2500 năm , cư dân Đồng Nai đã bắt đầu bước vào thời đại kim khí . Nền văn hoá thời đồ sắt ở Đồng Nai kết gắn hai giai đoạn phát triển đồng – thau và sắt sớm . Từ trong văn hoá đồng đã manh nha văn hoá sắt sớm với hàng loạt di chỉ tiêu biểu được phát hiện : Dốc Chùa , Bình Đa , Cái Vạn, Suối Chồn , Hàng Gòn , Long Giao …
Sau cuộc hành trình dài với những đỉnh điểm : Cầu Sắt , Long Giao , Suối Chồn , cư dân Đồng Nai đã tạo dựng một nền văn minh tiền sử rực rở trong quá trình xuất hiện , phát triển của mình . Nền văn hoá Đồng Nai phát triển và lan toã rộng , bắt đầu có sự giao thoa những yếu tố mới về văn hoá , tộc người .
Cư dân cổ Đồng Nai phát triển cao về chất lựơng , số lượng , xã hội được đẩy lên ở những bước cao hơn , đầy đủ những yếu tố chuyển tiếp cho giai đoạn phát triển mới . Hình thành các tộc người , cơ sở cho việc phát triển các quốc gia sơ khai trên vùng đất Đồng Nai đầu công nguyên .
Trên vùng đất Đồng Nai vào cuối thế kỷ XVI , về cơ bản , vẫn là một vùng đất hoang vu chưa được khai phá . Theo Lê Quý Đôn “Ở phủ Gia Định , đất Đồng Nai , từ cửa biển Cần Giờ , Soài Rạp , Cửa Đại , Cửa Tiểu trở vào , toàn là rừng rậm hàng ngàn dặm ” [1] .
Theo nhiều nguồn sử liệu cũ còn để lại , trên vùng đất rộng mênh mông này , lúc bấy giờ có các dân tôc như Xtiêng , Mạ , Chơ ro , Kơ ho , M’ Nông sinh sống . Các dân tôc này sinh sống tại địa bàn Đồng Nai từ rất lâu đời . Cho đến cuối thế kỷ XVI dân số vẫn rất thưa thớt , kỹ thuật sản xuất thô sơ và trình độ xã hội còn thấp kém . Ngoài các dân tôc bản địa nói trên , ở Đồng Nai vào giai đoạn này có người Khơ mer sinh sống rãi rác trong một vài sóc nhỏ , nằm heo hút trên các giồng đất cao . Họ là dân nhập cư từ Lục Chân lạp sang .
Chính vì vậy mà vùng đất nầy vào cuối thế kỹ XVI vẫn còn là vùng đất hoang vu . Ngừoi Việt bắt đầu nhập cư vào Đồng Nai
Vùng đất Đồng Nai hầu như hoang vắng vào cuối thế kỷ XVI thì vào đầu thế kỷ XVII trở nên sôi động với sự xuất hiện của lớp cư dân mới mà chủ yếu là người Việt từ vùng Thuận Quãng di cư vào .
Nguyên nhân của hiện tượng xã hội nầy chính là cuộc chiến tranh tưong tàn của hai dòng họ phong kiến Trịnh – Nguyễn . Cuộc giao tranh quyết liệt kéo dài 175 năm , trong đó có 45 năm đã diễn ra l iên tiếp 7 trận đánh lớn cực kỳ ác liệt .Để phục vụ cho nhu cầu của cuộc chuiến tranh giành giật quyền lợi nầy , đồng thời cũng để thoã mãn như cầu xa hoa của giới quý tộc , các tập đoàn phong kiến Trịnh – Nguyễn thi nhau vơ vét cùng kiệt nhân lực , vật lực của dân chúng , gây nên cảnh đói khổ lầm than mọi nơi . Chỉ riêng xứ Đàng Trong , sự vơ vét bóc lôt của bọn phong kiến Nguyễn đã làm cho nhân dân vô cùng cơ cực lần than phải rời bỏ ruộng vườn làng mạc , phiêu tán đi khắp nơi để mưu cầu cuộc sống . Lê Quý Đôn ghi nhận “ Trong cõi đã xãy ra hạn và đói , dân phiêu bạt và chết đói rất nhiều ”.
Khổ sở , điêu đứng vì chiến tranh , vì bóc lột cùng với thiên tai tàn phá ác liệt làm cho những người nông dân phải rời bỏ ruộng vườn , làng mạc , phiêu tán đi khắp nơi để tìm cuộc sống mới , no đủ hơn .
Chính vì vùng đất phía Nam là vùng đất của người Chăm pa đang suy tàn , và xa hơn nữa là vùng đất sau này có tên là Đồng Nai – Gia Định , một vùng đất màu mỡ nhưng hầu như vô chủ là nơi thu hút mạnh mẽ lưu dân Việt đi tìm đất sống . Làn sóng di dân ngày một dâng lên . Trong số lưu dân Việt đến Đồng Nai , ngoài những nông dân nghèo khổ , đói rách là thành phần chủ yếu , còn có những ngừoi trốn tránh binh dịch , sưu thuế , binh lính đào ngủ , các tù nhân bị lưu đầy , thầy lang , thầy đồ nghèo và cả những người giàu có nhưng vẫn muốn tìm đất mới để mở rộng công việc làm ăn , làm giau thêm .
Những lưu dân Việt thuộc lớp tiên phong đi vào vùng đất mới Đồng Nai – Gia Định “lập nghiệp làm nhiều đợt trước cả thời Trịnh – Nguyễn phân tranh” nhưng dâng lên thành làn sóng mạnh mẽ hơn là vào cuối thế kỷ XVI , đầu thế kỷ XVII . Phần đông họ chọn phưong thức tự động , đi lẻ tẻ , hoặc cả gia đình , hoac những người khõe mạnh đi trước tạo dựng cơ nghiệp rồi đón cả gia đình đến sau , hoặc một vài già đình cùng cả xóm kết nhóm với nhau cùng đi . Phần lớn họ chọn thuyền buồm hay ghe bầu làm phưong tiện di chuyển chính , bởi lúc bấy giờ di chuyển giữa các phủ miền Trung với Đồng Nai- Gia Định chủ yếu là đường biển , một số người phải trèo đèo lội suối đi đường bộ , đi dần từng chặng một , đến một địa phưong ở lại một thời gian , thấy bám trụ được thì ở lại lập nghiệp , bằng không đi tiếp và lần hồi cũng tới vùng đất mới Đồng Nai .
Tiến trình nhập cư của lưu dân Việt vào vùng Đồng Nai – Gia Định từ lẻ tẻ rời rạc , dần dần có quy mô lớn hơn , nhất là sau khi các chùa Nguyễn đã tạo ra ảnh hưởng của mình trên vùng đất nầy .
Miền đất Thuỷ Chân Lạp vô chủ , mặc nhiên được xem như vùng trái độn giữa hai biên giới Việt và Miên . Bởi vậy , bất kỳ dân tộc nào có gan dạ , có sức , có lực , ai muốn chiếm cứ khai phá vùng đất nầy lấy đất sinh sống đều được tự do , không hề bị cản trở , cấm đoán .
Cho đến cuoi thế kỷ XVII , thế lực của chúa Nguyễn ở Đồng Nai – Gia Định đã tăng lên mạnh mẻ , điều đó đã khuyến khích làn sóng định cư của người Việt trên vùng đất mới . Điểm dừng chân đầu tiên của họ là Mô Xoài ( Bà Rịa ) địa đầu của vùng đất mới nằm trên trục giao thông của đường của đường bộ từ Bình Thuận vào Nam , lai nằm trên đường biển có vịnh biển Ô Trạm rất thuận lợi cho tàu thuyền cập bến . Đây là một vùng đất rộng lớn từ Long Hưong , Phứơc Lễ đến Đất Đỏ ngày nay . Theo Trịnh Hoài Đức trong “Gia định thành thông chí ” thì lưu dân Việt đã vào Mô Xoài từ đời chúa Nguyễn Hoàng (1558- 1613 ) , chúa Nguyễn Phúc Nguyên ( 1613 – 1635 ) , chúa Nguyễn Phúc Lan ( 1635 – 1648 ) . Đến nửa sau thế kỷ XVII số di dân người Việt đến vùng này khá đông , trong đó có nhưng di dân Thiên Chúa giáo trốn chạy việc cấm đạo . Những người này đã lập ra một họ đạo ở Xích Lam gần Đất Đỏ .
Từ Mô Xoài ,Bà Rịa , các thế hệ di dân tự do người Việt với phương tiện di chuyển chủ yếu là thuyền , ghe , xuồng theo thuỷ triều ngựơc dòng sông Đồng Nai và cả đi bộ dọc theo sông tiến dần vào vùng Đồng Nai . các điểm định cư sớm nhất của họ là : Nhơn Trạch , Long Thành , An Hoà , Bến Gỗ , Bàn Lân , cù lao Phố , cù lao Tân Chánh , cù lao Ngô , cù lao Kinh , cù lao Tân Triều …
Như vậy, tiến trình nhập cư của cư dân người Việt vào đất Đồng Nai – Gia Định đã diễn ra liên tục trong suốt gần một thế kỷ . Đến năm 1698 ,khi Nguyễn Hữu Cảnh theo lệnh của Nguyễn Phúc Chu vào kinh lược ,thiết lập hệ thống quản lý hành chính ,tổ chức việc khai thác đất đai và ổn định trật tự xã hội thì dân số vùng nầy đã hơn 40.000 hộ ,nếu tính bình quân mỗi hộ 5 người thì tổng nhân khẩu khoãng 200.000 người . Đây là nguồn nhân lực đầu tiên làm biến đổi kinh tế xã hội của vùng đất Đồng Nai – Gia Định vốn giàu tiềm năng nhưng trước đó chưa khai thác .
Sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức cho biết , các giồng đất bên bờ sông Phước Long ( sông Đồng Nai ) ,thuộc các huyện Nhơn Trạch ,Long Thành , Vĩnh Cửu ,thành phố Biên Hoà ngày này và các cù lao ven sông là những nơi có nước ngọt dùng cho sinh hoạt trồng tỉa nên người Việt đến khai thác sớm nhất .
Các vùng ven núi là nơi lưu dân Việt chọn làm nơi ở khá sớm ,bởivì nơi đó có điều kiện khai thác các nguồn lợi lâm sản như : săn bắn , khai thác gỗ ,khai thác mỏ…
Sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức còn ghi lại một số địa danh ven núi , nơi có người Việt khai thác như núi Thiết Khâu , núi Lò Thổi , núi Nữ Tăng ,núi Sa Trúc …
Vùng giồng cao ven biển ,nhất là những nơi có vũng hoặc cửa sông tốt cũng là một trong những nơi định cư ,làm ăn đầu tiên của người Việt . Tại đây ,họ chọn nghề chài lưới ,nghề làm mắm ,làm ruộng muối làmkế sinh nhai . Sách Gia Định thành thông chí có ghi lại vùng biển Tắc Ký ( nay là xã Phước Hải ,Long Đât , Bà Rịa – Vũng Tàu ) “dân miền biển nhóm đến làm nghề chài lưới ,là nơi làm cá mắm của trấn hạt Biên Hoà ”.
Tiến trình phân bố các địa điểm định cư để khai khẩn của lớp cư dân mới của đất Đồng Nai có thể nhìn nhận với một lược đồ như sau :
Vùng Mô Xuy – Bà Rịa là nơi khai thác sớm nhất , khu vực Long Hương , Phước Lễ , Đất Đỏ đã có đông ngườiViệt đến định cư khai thác vào cuối thế kỷ XVI
Từ đầu thế kỷ XVII , các vùng dọc ven sông Phước Long từ Nhơn Trạch ,Long Thành đến Biên Hoà , Vĩnh Cửu lần lượt được người Việt đến khai khẩn ,lập ruộng vườn .
Đặc biệt ở những địa điểm thuận lợi như cù lao Phố thì số lượng người Việt đến khẩn hoang lập ấp trong những thập niên đầu thế kỷ XVII là rất lớn .”Đến thế kỷ XVII trở đi ,người Kinh đến khai hoang lập ấp ,chính yếu là tại cù lao Phố ngày nay và vùng lân cận . Cù lao Phố lúc ấy đã có 32 xóm : xóm Chợ Chiếu vế sau là xã Hưng Phú , xóm Rạch Lò Gốm về sau là thôn Hoà Đông , xóm Chùa về sau gọi là thôn Bình Tự ” [2] .
Như vậy , đến giữa thế kỷ XVII ,trên cả một khu vực rộng lớn thuôc lưu vực sông Phước Long và cả vùng Sài Gòn –Bến Nghé đã có người Việt đến định cư ,họ cùng với ngươi Khơ me và các dân tộc bản địa khai khẩn một vùng đất đai rộng lớn . Tuy nhiên , những điểm định cư và khai phá chỉ mới rãi rác đó đây ,gọi nôm na là “móc lõm” , chủ yếu dọc theo sông rạch ,nơi thuận lợi giao thông bằng thuyền bè .Đất hoang rừng rậmvẫn còn nhiều , vì hầu hết người Việt đến định cư là dân nghèo phiêu bạt thiếu tài lực ,vật lực , phưong tiện sản xuất kỹ thuật ….
Những lưu dân người Việt định cư khai khẩn ở Đồng Nai từ cuối thế kỷ XVII phần lớn là những nông dân nghèo đi tìm đất mới để sinh sống . Vì thế , khi đặt chân vào vùng đất mới đã sinh sống bằng nhiều ngành nghề khác nhau như buôn bán nhỏ , đánh bắt cá, làm mắm . săn bắn ,khai thác gỗ ,khai thác quặng , đan lát ,làm đồ gốm … còn lại tuyệt đại bộ phận đều chọn nông nghiệp làm nghề sinh sống chính . Trịnh Hoài Đức đã nhận xét “Trấn Biên Hoà nhân dân siêng năng cày cầy , dệt cửu đều có sản nghiệp ”[3]
Vần đề nông nghiệp mà cơ bản nhất là sản xuất lương thực ,thực phẩm trở thành vấn đề quan trọng hàng đầu bởi “có thực mới vực được đạo ” . Để co thể sản xuất lương thực, việc đầu tiên là phải khai khẩn đất hoang . Việc khai phá đất đai trong lúc nầy diễn ra hoàn toàn tự phát ,tự động , dựa vào sức mình là chính , chưa có sự trợ giúp của chính quyền nhà nước . Việc khai thác nầy thường diễn ra dưới dạng tập thể gồm một vài gia đình có quan hệ họ hàng thân thuộc với nhau hay cùng quê hương xứ sở ,bởi vì vùng đất mới đối với họ là hoàn toàn xa lạ ,vừa hoang vu , vừa ẩn chứa nhiều nổi nguy hiểm khó lường trước .
Quy mô khẩn hoang buổi đầu thường nhỏ , do dân thiếu nhân lực , nông cụ ,thiếu lương thực ,thực phẩm và không có vốn . Canh tác 5, 10 mẫu tuy làm sơ sài nhưng chắc ăn hơn là làm đôi ba mẫu vì chim chuột ,thú rừng co phá cũng không mất hết . Hơn nữa , sở hửu về ruộng đất đã kích thích họ tận lực khai khẩn nhằmsở hữu diện tích đất đai càng rộng càng có cơ hội thoát khỏi cảnh đói nghèo ,vươn lên làm giàu .
Phần lớn những diện tích được khai phá ở vùng đấy Đồng Nai – Gia Định được người Việt sử dụng trồng lúa nước và lập vườn . Trước khi có lưu dân Việt thì dân bản địa đã biết trồng lúa rẫy , nhưng trình độ kỹ thuật còn thấp và diện tích không đáng kể . khi lưu dân Việt đến khai khẩn ,mở rộng diện tích canh tác họ đã áp dụng những kinh nghiệm quý báu và kiến thức cổ truyền trong nghề trồng luá nước tích luỹ từ bao đời ở quê hương , thì ngành nông nghiệp trồng lúa nước ở xứ Đồng Nai được hình thành và từng bước phát triển cả về quy mô lẫn năng suất , sản lượng
Hai loại ruông phổ biến được khai thác trong thê kỷ XVII và các thế kỷ sau đó là sơn điền và thảo điền .
Cách thức canh tác loại sơn điền là “đốn chặt cây cối , đợi cho khô đốt làm phân tro , khi mưa xuống trồng lúa ( gieo thẳng ) không cần cày bừa , trong 3 ,4 năm thì đổi làm chổ khác ”.
Thảo điền, cón gọi là ruộng cỏ , ở nơi đất thấp . Gia Định thành thông chí giải thích “loại ruộng nầy lùng lác bùn lầy ,mùa nắng khô nứt nẻ như vẽ mu rùa ”, chủ yếu tập trung ven sông rạch vùng Nhơn Trạch , Long Thành và điển hình là vùng Phiên An và vùng đồng bằng sông Cửu Long .
Ngoài việc khẩn hoang trồng lúa , lưu dân Việt còn chú trọng đến việc trồng các loại hoa màu khác như : khoai ,đậu , bắp , mè , ,mía ,chuối , đu đủ , cam ,chanh … . Ngoài ra người Việt còn biết làm vườn trồng cây ăn quả .
Thành quả của việc khai hoang và sản xuất của lưu dân người Việt cùng với các dân tộc bản địa trong thế kỷ XVII đã làm biến đổi bước đầu bộ mặt kinh tế Đồng Nai . Nơi đây từng là rừng núi hoang vu nay đã trở thành những cánh đồng lúa , vườn cây tươi tốt.
Xóm làng hình thành ven sông là một đặc điểm nội bật của cư dân Đồng Nai . Về sau khi giao thông phát triển thuận lợi thì xóm làng mới phát triển theo chiều ngang .
Thành quả việc khai khẩn của lưu dân Việt non một thế kỷ đã từng bước làm biến đổi bộ mặt kinh tế – xã hội Đồng Nai . Từ chổ là rừng hoang nay đã trở thành vựa lúa gạo dư thừa so với nhu cầu lương thực tại chổ ,vì vậy ,việc vận chuyển buôn bán ra các phủ ở xứ Đàng Trong là điều tất yếu .
Công việc khẩn hoang đã làm thay đổi bộ mặt xã hội . Sự phân chia giai cấp ngày một diễn ra sâu rộng ,tầng lớp địa chủ chiếm hửu ruông đất dần dần được hình thành và số nông dân nghèo phải làm thuê , cuốc mướn hay làm tá điền ngày càng đông . Sự phân hoá xã hội ngày cáng tăng , mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ ngày một sâu sắc hơn .
Nhưng dẫu sao , những thành tựu đã đạt được về mặt khẩn hoang và khai thác nông nghiệp ,tiểu thủ công nghiệp trong giai đoạn đầu đã đặt nền móng vững chắc cho công cuộc khẩn hoang và phát triển kinh tế vùng đất Đồng Nai – Gia Định trong các thời kỳ tiếp .
Năm 1679 , hai tướng Dương Ngạn Địch và Trần Thượng Xuyên dùng 50 chiến thuyền vượt biển vào nước ta mang theo 3000 người thân tộc và cận vệ . Họ cập bến Tư Dung ( Thuận Hoá ) xin tị nạn vào đất Việt ,được chúa Nguyễn cho phép nhập cư
Việt sử xứ Đàng Trong của Phan Khoang chép: “ Chúa Thái Tông bèn khiến đặt tiệc đãi họ , an ũi , khen ngơi , cho các tướng lãnh y chức cũ ,phong thêm quan tước mới , khiến vào đất Đông Phố để mở mang đất ấy .Liền đó , họ được các tướng Văn Trinh , Văn Chiêu hướng dẫn , binh thuyền tướng sĩ Long môn của Trần Thượng Xuyên , Trần An Bình tiến vào cửa biển Cần Giờ rồi lên định cư ở Bàn Lân [4] , xứ Đồng Nai ”. Số ngừoi Hoa hiện diện tại Bàn Lân năm 1679 là một bộ phận của tổng số 3000 người Hoa di tản sang Việt Nam
Trước khi nhóm người Hoa cuả Trần Thượng Xuyên đến thì nơi đây đã có ngừoi Việt sinh sống , theo Trần Hiếu Thuận thì nơi đây đã có 3 xóm :”xóm Chợ Chiếu , xóm Rạch Lò Gốm và xóm Chùa ” [5]
Buổi đầu đến định cư khai phá , nhóm người Hoa nầy đốn chặt cây cối ,phát cỏ rậm xung quanh khu vực định cư ,khai thông nguồn nước , mở mang đường ngõ … Vấn đề giải quyết lương thực được đặt lên hàng đầu ,là nhu cầu bức thiết nhất của cuộc sống .
Tuy nhiên , do số lượng người không nhiều ,nên mức độ khai phá của họ chưa đóng gòp nhiều trong việc khai khẩn . Nông nghiệp không phải là phương thức sinh sống chủ yếu , họ chỉ chỉ làm phương tiện để chuyển sang kinh doanh buôn bán .
Cù lao Phố [6] là một bãi phù sa nằm ở giữa sông Đồng Nai , có hệ thống sông bao quanh , giao thông thuận tiện với đường thuỷ từ Bắc xuống Nam ,lên Cao Miên và xuống Tây Nam bộ .
Các điều kiện tự nhiên ở đây giúp cho nông nghiệp , thủ công nghiệp và thương nghiệp sớm hình thành và phát triển ,đóng vai trò đặc sắc của cù lao Phố .
Cù lao Phố còn gọi là Đại Phố , Đông Phố hay Giản Phố và Cù Châu . Trước năm 1698 cù lao Phố có 3 xóm ( Chợ Chiếu , Rạch Lò Gốm và xóm Chùa ) là những điểm cư trú và khai thác đầu tiên của người Việt chứ chưa phải là đơn vị hành chính của chúa Nguyễn . Đến năn 1698 ,khi Nguyễn Hữu Cảnh kinh lược đất Đông Phố mới chia lập thôn ấp , lập bộ đinh , bộ điền thì cù lao Phố là xã Bình Hoành [7] nằm trong phạm vi xứ Đồng Nai , thuộc huyện Phước Long , dinh Trấn Biên .
Cù lao Phố là địa bàn thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp , thủ công nghiệp và thương nghiệp . Nhóm người Hoa cuả Trần Thượng Xuyên đã nhìn thầy những ưu điểm của cù lao Phố nên họ đã di chuyển về đây định cư . Trần Thượng Xuyên cùng với những hào phú , quý tộc đi theo ông “Chiêu nạp người buôn nước Tàu , xây dựng đường phố , lầu quá đôi tầng rực rở bên bờ sông , liên lạc năm dặm và phân hoạch ra ba nhai lộ , nhai lớn giữa phố lát đá trắng , nhai ngang lát đá ong , nhai nhỏ lát đá xanh ,đường rộng bằng phẳng ” [8] . Đây là bước chuẩn bị cơ sở kinh doanh của nhóm người Hoa ở cù lao Phố , mở ra cho thương nghiệp phát triển . Song thương nghiệp có phát triển hay không còn phụ thuôc vào sự phát triển của kinh tế hàng hoá ở cù lao Phố và các vùng xung quanh và nhất là dựa vào sự mở rộng của quá trình phân công lao động xã hội tại vùng Đồng Nai .
Cù lao Phố đã sớm là nơi tập trung các nghề thủ công : dệt chiếu , dệt tơ lụa , gốm ,đúc đồng ,nấu đường ,làm bánh ,làm đồ gỗ … các nghề này đã để lại những dấu ấn sâu sắc trong dân gian như những địa danh : Chợ Chiếu , xóm Củi , xóm Lò Đúc , rạch Lò Gốm … Điều nay nói lên sự phát triển kinh tế mạnh mẽ của cù lao Phố , nhất là kinh tế hàng hoá , tạo tiền đề cho sư hình thành trung tâm thương mại và giao dịch vào bậc nhất của Nam bộ , thương cảng cù lao Phố mà người Hoa gọi là Nông Nại đại phố trong thế kỷ XVIII.
Kinh tế hàng hoá ở Đồng Nai ngày càng phát triển thì tỷ lệ dân cư phi nông nghiệp ngày càng tăng ,sự phân công lao động diễn ra mạnh mẽ hơn và với nhiều ngành nghề hơn . Đến năm Mậu Dần 1698 , những ngừơi Việt từ miền Trung di dân vào Đồng Nai với quy mô lớn , dưới sự bảo trợ của chính quyền chúa Nguyễn càng thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển vượt bậc về nông nghiệp , thủ công nghiệp và thương nghiệp thì cảnh “người buôn tụ tập đông đúc , tàu biển ,ghe sông đến đậu chen lấn nhau , còn những nhà buôn to thì ở đây nhiều hơn hết , lập thành một đại đô hội ” mới thật sự diễn ra .
Khi nhóm Trần Thượng Xuyên định cư ở Bàn Lân họ đã thu hút các thương nhân Trung Hoa và các nước khác là những thương buôn chuyên nghiệp có vốn to và giàu kinh nghiệm . Hơn nữa ,kiểu buôn bán ở cù lao Phố là dạng xuất nhập khẩu , có nhiều kho hàng dự trữ hàng hoá nhập vào và dự trữ hàng hoá thu mua , với nhiều chân rết . Quang cảnh mua bán đã được Trịnh Hoài Đức mô tả : “Xưa nay thuyền buôn đến đây hạ neo xong ,thì len bờ thuê phố ở , rồi đến nhà chủ mua hàng , lại đây kê khai những hàng hoá trên thuyên và khuân cất lên , thương lượng giá cả , chủ mua hàng định giá mua bao tất cả những hàng hoá tốt xấu ,không bỏ sót lại thứ gì . Đến ba ngày trương buồm trở về ,gọi là hồi đường , chu thuyền có yêu cầu mua giúp vật gì thì người buôn cũng chiều y ước đơn mua giùm chở đến trước kỳ giaohẹn , hai bên chủ khách chiếu tính hoá đơn thanh toán rồi cùng nhau đàn ca vui chơi …” [9]
Nguồn xuất khẩu chính của cù lao Phố là lúa gạo , lúa gạo ở Đồng Nai nhiều và rẻ , “một tiền ( 60 đồng ) đong được 16 đấu thóc , cứ lường theo bát được gạt bằng miệng mà dân địa phương thường dùng thì 3 bát ấy ngang với 30 bát của nhà nước ”.
Ngoài lúa gạo , Đồng Nai còn xuất khẩu gỗ quý để đóng tàu hoặc làm nhà.Ngoài ra còn có ngà voi , sừng tê ,gạc nai và các loại dược thảo mà chủ thuyền rất ưa thích .Nhiều loại thuỷ hải sản và hàng thủ công mỹ nghệ ,các loạikhoáng sản cũng là hàng xuất khẩu thường xuyên của cù lao Phố .
Nguồn hàng nhập khẩu chủ yếu là đồ sứ Trung Quốc , tơ lụa , vải bố ,thuốc Bắc và các loại đồng để đúc chuông , gạch ngói để trang trí ,các loại vật liệu xây dựng trang trí đền ,chùa .
Các tàu buôn thường đến cù lao Phố là : tàu buôn phương Tây , Nhật Bản , Mã Lai , Trung Hoa … trong đó ,thương nhân Trung Hoa đóng vai trò trọng yếu vì trong giai đoạn nầy “khách hàng chính của cù lao Phố cũng như của các thương cảng Đàng Ngoài và Đàng Trong là người Trung Hoa . Trong điều kiện mà việc giao dịch buôn bán giữa hai nước là nếp cũ từ lâu đời ,thì các thương nhân Hoa kiều có vai trò vị trí quan trọng trong lĩnh vực kinh tế ở các địa điểm giao lưu ,trong đó có cù lao Phố được coi như là một cảng biển trên sông ” [10].
Nông Nại đại phố hình thành như một cảng sông sâu trong nội địa nhờ đặc điểm địa lý tối ưu của nó và do yêu cầu thực tế đòi hỏi phải có một trung tâm thương mại của khu vực được khai phá sớm . Nhưng rồi sau đó , công cuộc khai phá tiến nhanh về miệt dưới nên vị trí trung tâm của vùng đất phương Nam lúc nầy chuyển về Gài Gòn – Bến Nghé .Bản thân của cù lao Phố sau khi bị các cuộc chiến tranh tàn phá không khôi phục lại được như xưa .
Từ thế kỷ XVII, vùng đất Nam Bộ mà xứ Đồng Nai là địa đầu, công cuộc khai khẩn của các luồng dân di cư từ các nơi đến đã diễn ra. Càng về sau, quy mô và tốc độ của việc khai khẩn được đẩy mạnh.
Lực lượng lưu dân khai hoang đông nhất là những người dân xứ Ngũ Quảng (Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Đức, Quảng Nam, Quảng Ngãi). Từ quê hương của mình do đói khổ, thiên tai và chiến tranh, họ bắt đầu đi tìm một vùng đất mới để sinh cơ lập nghiệp. Đồng Nai – vùng đất rộng, người thưa trỏ thành nơi lý tưởng cuốn hút họ đến khai phá. Họ đến cư trú, sinh sống và làm ăn trong một thời gian dài không chịu sự ràng buộc của hệ thống chính quyền nào. Họ di dân tự phát và trên vùng đất mới, liên kết nhau, cần mẫn khai hoang, mưu cầu một cuộc sống ấm no, hạnh phúc hơn quê nhà.
Sau này, một lực lượng người Hoa đến Đồng Nai khai khẩn do Trần Thượng Xuyên người Quảng Đông (Trung Quốc) cầm đầu. Họ được chúa Nguyễn cho phép vào xứ Đồng Nai lập nghiệp. Tại vùng đất mới với việc khuyếch trương thương mại, nhóm người Hoa đã mở mang vùng Biên Hoà mà trọng điểm là cù lao Phố trở thành một thương cảng sầm uất lúc bấy giờ.
Trên cơ sở của một lực lượng di dân, khai khẩn vùng đất phương Nam này mà chúa Nguyễn Phúc Chu đã cử Nguyễn Hữu Cảnh – một tướng tài giỏi kinh luợc phía Nam vào mùa xuân năm Mậu Dần (1698).
Chuyến kinh lược này, Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh đã thực thi một việc vô cùng quan trọng; đó là thiết lập một hệ thống tổ chức bộ máy hành chánh ở vùng đất mới. Cụ thể là : Ong “lấy xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long dựng dinh Trấn Biên , lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình dựng dinh Phiên Trấn, mỗi dinh đặt chức Lưu thủ, Cai bộ và Ký lục để quản trị, nha thuộc có hai ty xá – lại để làm việc; quân binh thì có cơ, đội, thuyền, thuỷ bộ binh và thuộc binh để hộ vệ.
Đất đai thời Nguyễn Hữu Cảnh kinh lược ( kể toàn phủ Gia Định) mở rộng 1000 dặm, dân số hơn 4 vạn hộ. Ong chiêu mộ lưu dân từ Bố Chánh ( Quảng Bình) đưa vào Nam cho ở đông đúc: “Thành lập xã, thôn, phường, ấp, chia đặt địa giới, khai khẩn ruộng đất, định lệ thuế, tô và dung, đồng thời lập sổ đinh, sổ điền “ [11]
Việc làm của Nguyễn Hữu Cảnh có tác động lớn đến vùng đất mới. Vùng đất rộng, ngươi thưa, dân cư gồm những ngừơi tha phương cầu thực đã chung sống trở thành cộng đồng. Về mặt pháp lý, với bộ máy hành chánh cụ thể, người dân chịu sự cai quản của nhà nước, sống theo trật tự xã hội và có điều kiện phát triển kinh tế. Bên cạnh đó, Nguyễn Hữu Cảnh thực thi chính sách dân tộc độc đáo khai thác tiền năng của cộng đồng người Hoa và ổn định về xã hội cho họ yên tâm cùng với lưu dân Việt phát triển vùng đất Đồng Nai bằng cách lập đơn vị hành chánh riêng. Cụ thể la lập xãThanh Hà ở Trấn Biên (Biên Hoà ), Minh Hương (Sài Gòn) ở Phiên Trấn.
Bắt đầu từ năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh thay mặt chúa Nguyễn thiết lập bộ máy hành chánh đầu tiên ở đất Đồng Nai và Sài Gòn. Việc làm này đã đật nền tảng xã hội cơ bản. Chính nơi đây trở thành lãnh thổ chính thức của nước Việt.
Trên cơ sở khẳng định vùng lãnh thổ, chúa Nguyễn bắt đầu thực hiện những chính sách khẩn hoang và phát triển kinh tế trên đất Nam bộ nói chung và Đồng Nai nói riêng.
Chính sách khẩn hoang được chúa Nguyễn đẩy mạnh, khuyến khích bằng cách “cho phép mọi người phân chiếm ruộng đất”. “Những người di cư ra sức chặt phá cây cối, cắt cỏ rậm và mở mang đất đai thành những vùng đất bằng phẳng, thổ địa phì nhiêu”. Họ mở vườn cau và xây dựng nhà cửa. “Lại cho thâu nhận những con trai, con gái ngừơi “Mọi” từ trên đầu nguồn xuống để mua làm đầy tớ, đứa ở, sai khiến, hầu hạ…”. Đây là một trong những chính sách đầu tiên được các chúa Nguyễn triễn khai trên địa bàn Đồng Nai – Nam bộ. Lực lượng dân lưu trú tự động khai hoang. Họ dựa hoàn toàn vào sức của mình. Đó là những nguời đồng hương hoặc thân tộc cùng đến đất mới, tụ hội thành lập nhóm để mở đất sản xuất. Cũng có những trường hợp lẻ tẻ nhựng chiếm số lượng không đáng kể. Đa số là những người dân nghèo, nên họ cần cù, chịu khó, lao động siêng năng trước tiên tìm được đất trồng lương thực để không bị đói và dần dần mở cơ nghiệp ổn định cuộc sống. Chính quyền các chúa Nguyễn không can thiệp mà còn tỏ ra dễ dãi với tầng lớp này để họ tích cực đẩy mạnh khai hoang. Vì vậy, mới có tình trạng dân ở vùng này có thể khai khẩn vùng khác, ở bất kỳ nơi đâu ruộng gò hay ruộng thấp nếu thấy thuận lợi cho mình. Họ tự phân chiếm đất đai nhưng tất nhiên không được tranh chấp. Với chính quyền, họ chỉ cần đến khai trình là chủ của vùng đất đai ấy và tự động nộp thuế nhiều hay ít, tuỳ theo diện tích mình canh tác. Chính quyền thực ra không thể quản lý được tầng lớp này về việc họ khai phá, không đo đạc nên cũng không màng đến loại đất đó tốt hay xấu. Việc họ đến khai báo, nộp thuế là tốt lắm rồi. “Cốt yếu khiến dân mở đất khai hoang cho thành điền, lập thành thôn xã mà thôi”. Hình thức khẩn hoang của dân lưu tán chỉ dừng lại ở quy mô vừa phải, bởi họ vốn liếng không có. Diện tích đất khai phá nếu tốt thì làm vài mùa vụ, còn xấu thì có thể bỏ đi nơi khác. Việc thâm canh không nhiều mà phổ biến là hình thức quảng canh.
Bên cạnh những người dân nghèo khổ (chiếm số đông trong lực lượng dân lưu tán) còn có những người giàu, tức “ dân có vật lực” được các chúa Nguyễn chiêu mộ từ Ngũ Quảng vào khai phá. Đây là lực lượng khai phá với quy mô lớn vì họ có vốn liếng nhiều,có phương tiện và thuê mướn nhân công. Lê Quý Đôn trong Phủ Biên tạp lục nói về quy mô khai phá của tầng lớp này: “ Những người giàu có ở các điạ phương, nơi thì có bốn năm mươi nhà, mỗi nhà có hạng đầy tớ làm ruộng – còn gọi là diền nô – hoặc đến năm, sáu mươi người. Mỗi gia đình có thể nuôi hơn ba, bốn trăm trâu bò, cầy bừa, trồng trọt, cấy dặm, gặt hái, bận rộn suốt ngày không lúc nào nghỉ ngơi. Lớp người giàu có này là những cơ sở nộp thuế nhiều cho chúa Nguyễn và được chính quyền quan tâm hỗ trợ về mặt pháp lý. Những người giàu có trở thành bá hộ hay thiên hộ, có sự chi phối mạnh, thậm chí khống chế thôn làng”.
Qua những lực lượng khai hoang (dân lưu tán, dân có vật lực) được nhập cư dưới sự bảo hộ của chính quyền chúa Nguyễn mà vùng đất Đồng Nai được khai phá mạnh mẽ. Đất đai nhiều, thôn làng được lập nên. Cơ cấu đất đai Đồng Nai thời kỳ này gồm những thành phần sau :
- Những khoảng đất thuộc quyền sở hữu của từng cá nhân dân làng, tức loại tự điền, tư thổ.
- Đất dai thuộc quyền sở hữu của cộng đồng thôn, xã. Thường là những vùng đất các gia đình có công sức lập lành hiến cho hoặc hô hào mọi thành viên dành riêng góp lại cho “bổn thôn điền”, “bổn thôn thổ”. Đất đai này gắn liền với việc lập làng.
- Những vùng đất đai chưa khai khẩn trong phạm vi thôn làng, mọi thành viên có quyền hưởng dụng lợi tức bằng cách khai thác riêng.
Những chế độ sở hữu thể hiện cách thức quản lý của chúa Nguyễn. Qua đó, chính quyền thu thuế một cách vững chắc, bảo đảm nuôi bộ máy nhà nước.
Chính nhờ vào các phương thức khẩn hoang và chính sách cai trị “dễ dãi” như : cho dân tự do chiếm hữu ruộng đất (có bao nhiêu cũng được), cho mua bán nô tì (những dân tộc thiểu số tùy theo mà có giá từ 10 đến 20 quan tiền) để tạo nên lực lượng sản xuất; khuyến khích thương mại, chưa cần đo đạc điền thổ, tự nguyện nộp thuế… mà chính quyền chúa Nguyễn đã thúc đẩy mạnh cuộc khẩn hoang lập ấp trên vùng Đồng Nai – Gia Định. Không bao lâu sau, nơi đây trở thành nơi sản xuất lớn. Lúa gạo trở thành hàng hoá bán ra khắp nơi.
Sau này, để đẩy nhanh việc khai phá vùng đất mới nhưng màu mỡ, trù phú, chính quyền chúa Nguyễn còn sử dụng lực lượng binh lính khai phá đất đai, canh tác ở khu vực trú quân và mộ dân lập đốn điền.
Từ cuối thế kỷ XVII, nhất là trong thế kỷ XVIII, chúa Nguyễn thường diều động binh lính vào vùng Đồng Nai – Gia Định do nhu cầu bảo vệ lãnh thổ. Phần lớn, các nơi quân lính đồn trú được các chúa Nguyễn cho phép khai phá đất đai để đảm bảo thêm nguồn lương thực. Nếu có binh biến thì binh lính làm nhiệm vụ an ninh, khi thanh bình thì lo vỡ hoang cầy cấy. Sử sách xưa có nhắc đến, quân lính nhà Nguyễn vào Đồng Nai – Gia Định dẹp loạn Hoàng Tiến và trấn áp sự quấy nhiễu của Chân Lạp. Khi mùa nước ngược “các tướng chia binh vỡ đất cày cấy ở Mỗi Xuy” (Bà Rịa ngày nay). Đất đai do binh lính khai phá,canh tác mang hình thức quân đồn điền. Lợi tức thu được bổ sung vào kho chung để lo nguồn lương thực cho quân lính nơi mình đóng.
Từ sau năm 1790, Nguyễn Anh ra lệnh lập đồn điền, mộ dân khẩn hoang lập ấp, giải quyết vấn đề lương thực cấp bách lúc bấy giờ. Một chính sách khẩn hoang mạnh mẽ khắp vùng Nam Bộ. Chúa Nguyễn đặt 12 quan điền tuấn “Chia đi 4 dinh Phiên Trấn, Trấn Biên, Vĩnh Trấn, Trấn Định đễ khuyên bảo nông dân cứ theo sổ đinh từ phủ binh cho đến hạng cùng cố đều phải gắng sức làm ruộng”. Để khuyến khích chính sách này, Nguyễn Anh cho đặt cơ sở đồn điền chuyên trách về việc khuyến khích binh sĩ tại ngũ tích cực khai khẩn những vùng đất lâu nay bỏ hoang vì chiến tranh. Các cơ quan dân sự địa phương thì “mỗi năm một người trong đồn điền nộp 6 hộc lúa, ai mộ được mười người thì cho làm quản trại, trừ tên trong sổ làng (miễn đi lính)”.
Chính sách khẩn hoang từ những lưu dân tự phát đến việc có sự bảo trợ của nhà nước, hình thức quân đồn điền… của chúa Nguyễn làm cho bộ mặt ở Đồng Nai ngày càng thay đổi. Những vùng đất dọc theo sông Đồng Nai, các vùng cao và phụ cận dinh Trấn Biên được khai phá trồng lúa và hoa màu. Những vùng rạch như Bến Gỗ, Bến Cá (xã Tân Bình ngày nay), cù lao Tân Triều và một số cù lao khác phát triển cùng với sự mở mang các loại chọ mua bán trao đổi các loại lâm, ngư, nông sản địa phương.
Ruộng thực trưng ở Biên Hoà – Đồng Nai (tức huyện Phước Long), cuối thế kỷ XVIII hơn 787 mẫu, chưa kể các khoảng ruộng muối, đất trồng dâu, mía, trầu và ruộng các kiếng họ lớn, ruộng quan đồn điền.
Việc Nguyễn Hữu Cảnh đặt nền móng hành chánh vào năm 1698 đã có môt tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của vùng Đồng Nai – Sài Gòn. Bên cạch việc khẳng định lãnh thổ của chúa Nguyễn, việc phát triển kinh tế mà chủ yếu là những phương thức khẩn hoang và chính sách kinh tế được đẩy mạnh, có tổ chức bằng nhiều hình thức khác nhau đã biến vùng Đồng Nai thành nhiều cụm dân cư với lực lượng đất đai được khẩn hoang rất lớn.
Nhìn chung, trong thế kỷ XVIII, cơ cấu sở hữu đất đai ở Đồng Nai xuất hiện hai hình thức : cộng điền và tư điền. Tư điền xuất hiện phổ biến trong giai đoạn khai phá với mục đích canh tác nông nghiệp và định cư. Công điền xuất hiện khi làng, ấp được hình thành và nó đem lại lợi ích chung cho cộng đồng.
Chúa Nguyễn là người sở hữu tối cao về toàn thể ruộng đất đai trong phạm vi lãnh thổ xứ Đàng Trong. Nhưng quyền sở hữu tối cao này không mâu thuẫn với quyền sở hữu cá nhân của người dân khi chúa Nguyễn hợp thức hóa việc chiếm hữu ruộng đất của họ, khuyến khích bằng nhiều hình thức hợp lý và lập địa bạ, thu thuế địa điền. Và nhà nước không xâm phạm đến quyền thừa kế là những người tiếp tục canh tác đất đai vẫn duy trì chế độ thuế trên vùng đất đó.
Kể từ khi cuộc khởi nghĩa Tây Sơn bùng nổ năm 1771 đến lúc “nhà Tây Sơn lập nền thống nhất đất nước” năm 1786 và kể cả dưới triều Tây Sơn từ 1786 đến 1802, không thấy sử ghi một cuộc khám đạc ruộng đất nào có quy mô… Hiện chỉ còn rất ít sổ địa bạ lập năm Quang Trung thứ 2 (1789) cho một số xã, thôn lẻ tẻ.
Đầu thế kỷ XIX, Nguyễn Anh lên ngôi vua, lấy niên hiệu là Gia Long (1802) thiết lập triều Nguyễn.
Năm 1805, Gia Long cho tổng kiểm kê ruộng đất ở 5 dinh và trấn thuộc xứ Gia Định : Phiên Trấn, Trấn Biên, Vĩnh Trấn, Trấn Định và Hà Tiên. Viêc kiểm kê bao gồm việc đo đạc các ruộng đất, ghi rõ nông phẩm canh tác, xác định các tuyến đường, kèm theo những bản đồ, đồng thời lập sổ đinh và thực hiện thuế má. Việc kiểm kê này thể hiện quyền uy của nhà nước đối với vùng đất Đồng Nai – Gia Định và về mặt pháp lý, nó tạo cơ sở cho việc phân chia các loại ruộng đất, căn cứ việc canh tác mà định thuế cho nhà nước.
Đối với vùng đất Nam bộ – trong đó có Đồng Nai, cac chúa Nguyễn và tiếp nối các triều vua Nguyễn từ Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức luôn chủ trương đẩy mạnh công cuộc khẩn hoang. Tính từ năm 1802 đến 1855, bốn đời vua Nguyễn đã “ban hành 25 chỉ dụ về việc tổ chức khai hoang trên toàn quốc. Người đi khai hoang được hưởng những chính sách thuận lợi như được nhà nước cấp hay cho mượn nông cụ, thóc giống. Ví dụ như chỉ dụ năm 1802 của Gia Long. Trong đó có 16 quyết định áp dụng ở Nam bộ, 2 ở miền Bắc, 1 ở kinh kỳ và 6 có ý nghĩa toàn quốc”.
Để thúc đẩy nhanh, mạnh việc khẩn hoang, các triều vua Nguyễn khuyến khích dân tự khai phá đất hoang bất kỳ nơi đâu mà mình thấy thích. “Người nào không có điền sản thì đem ruộng hoang cấp và cho vay thóc giống, đợi khi thu hoạch xong sẽ trả lại cho nhà nước”. Hệ thống quan lại ở địa phương thì được giao phải có trách nhiệm thường xuyên thúc đẩy dân chúng khẩn hoang. Những chủ trương mộ dân lập đồn điền trước đây cũng được phát huy. Gia Long cho lập đồn điền ở bốn phủ : Tân Bình, Phước Long, Định Viễn, Kiến An.
Thơi Minh Mạng công việc nầy càng được đẩy mạnh . Nhiều sắc dụ ban ra tạo điều kện cho những người đi khai hoang bất kỳ nơi nào và được miễn thuế ba năm hoặc lâu hơn . Năm 1837 , Minh Mạng ra chỉ dụ :”Nếu người đi khai hoang thiếu trâu cày , điền khí và lúa giống , thì các quan phải cấp phát ” . Đồng thời chính quyền triều Nguyễn căn cứ trên diện tích trồng trọt tăng hay giảm mà định mức thưởng hay phạt đối với quan lại địa phương từ xã đến tỉnh .
Triều Nguyễn thời Minh Mạng đã tiến hành đo đạc ruộng đất ở Nam bộ vào năm 1836 . Biên Hoà có diện tích được ghi trong địa bạ là 14.129 mẫu , chiếm 2,35 % diện tích khai thác được trong toàn Nam bộ . Cụ thể từng huyện như sau :
+ Bình An : 6.633 mẫu ( 1 mẫu = 0,5 ha )
+ Long Thành : 2.425 mẫu
+ Phước An : 1.729 mẫu
+ Phước Chánh : 3.342 mẫu
Toàn tỉnh Biên Hoà có 26 mẫu ruộng muối , 12 mẫu trầu , 2.258 mẫu trồng dâu , mía và các loại hoa màu khác .
Vào các thời Thiệu Trị và Tự Đức , các hình thức khai hoang lập ấp cũng được phát huy bằng các sắc dụ khuyến khích dân chúng . Năm 1841 , vua Thiệu Trị định lệ : “thưởng 40 quan tiền cho ai mộ được 5 suất đinh , khai khẩn trên 10 mẫu ruộng hoang , 60 quan tiền cho ai mộ được 15 suất đinh , khai khẫn 15 mẫu ruộng đất hoang trở lên”.
Nhìn chung , các vua triều Nguyễn , nhất là triều Minh Mạng ( 1820 – 1840 ) chính sách khẩn hoang và kinh tế của nhà nước đối với vùng đất Nam bộ nói chung , Đồng Nai nói riêng được đẩy mạnh và có quy củ . Diện mạo các hoạt động kinh tế , đặc biệt là nông nghiệp được quan tâm .
Trên cơ sở đất đai khai hoang và những chính sách về ruộng đất , kinh tế hợp lý , triều Nguyễn đã góp phần đưa Biên Hoà- đồng nai có nền kinh tế phát triển tương đối toàn diện so với các vùng khác thuộc Nam kỳ , mà trong đó , sản xuất nông nghiệp là chính .
Sau khi chiến được thành Gia Định ( 1859 ) và Tỉnh Biên Hoà ( 1861 ) thực dân Pháp thực hiện chính sách “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh “ . Người pháp ra nhiều nghị định quy định việc đăng ký, điều tra, đo đạc đất đai trong vùng ,lập sổ địa bạ và bước đầu tổ chức thu thuế nông nghiệp. Nếu đất không đăng ký nhà nước sẽ đem bán với giá 10 Fr / ha. Với cách làm nầy ,nhà nước nhanh chóng có khoãn thu đáng kể .
Để tạo nên tầng lớp colons ( thực dân ,kiều dân ) làm hậu thuẩn cho chế độ thuộc địa, nhà cầm quyền Pháp bán ruông đất cho họ với giá rẻ 10 Fr/ha. Các colons sở hữu dưới 50 ha phải nộp thuế từ năm thứ năm trở đi. Chủ sở hữu trên 50ha thì phải đóng nửa mức thuế sau ba năm kinh doanh, nếu ai sở hữu đất nhượng quy mô lớn hàng trăm ha thì sau sáu năm mới phải đóng thuế
Michelet là colons đầu tiên ở tỉnh Biên Hoà ,năm 1866 xin khai khẩn 716 ha đất ở Lạc An, đã trồng 53 ha lúa, 4 ha mía, 43 ha cà phê, cao su, vani, tiêu, quế, chuối … Đồn điền Michelet có ý định kinh doanh kiểu tư bản như ở các thuôc địa khác của Pháp ở châu Phi châu Á … song kỹ thuật vẫn là thủ công cổ truyền , cây trồng manh mún kiểu sản xuất nhỏ chưa đạt trình độ chuyên canh nông sản hàng hoá quy mô lớn nên chưa thu lãi như mong muốn .
Năm 1870 Kresser xin khai khẩn 27.000 ha đất để trồng mía. Ông ta nhờ số hội tề làm trung gian để cho người trồng mía bản xứ vay vốn làm chân rết trồng trọt. Rút cục, ông ta phá sản vì mía đường thu được ít, không đủ bù đắp cho số chi ra, chưa kể một số bị quỵt nợ .
Địa chí tỉnh Biên Hoà năm 1901 ghi số colons người Pháp kinh doanh :
- Michelet ở Lạc An trồng lúa ,mía .
- Công ty Pari Phước Tân trồng 25.000 cây cà phê ở làng Phước Tân
- Nativel ở làng Bình Trước trồng 10.000 cây cà phê và mía .
- Nicolas trồng mía và lúa.
- Torebilla trồng cà phê.
- Botton trồng 6.000 cây cà phê ở Bình Thạnh.
- Jurgensen trồng 60.000 gốc tiêu ở Tân Lợi
- Crestien trồng 30.000 cây cà phê ở Chánh Hưng .
- Bérenguler trồng lúa
- Romans trồng 2.250 cây cà phê ở Bình Dương
- Lorenzo trồng 3.800 cây cà phê ở làng Xuân Lòng.
- Mougeot và Cognacq ( không rõ trồng gì , ở đâu ).
Chúng ta chưa nắm chắc được diện tích và địa điểm trồng tĩa của các colons ,nhưng ta có thể đoán rằng các doanh nghiệp Pháp được chính
quyền thực dân nâng đỡ, họ chuyên canh các cây nông nghiệp nhiệt đới và có hàng hoá xuất khẩu về châu Au với quy mô từ vừa đến lớn. Đây là một bước ngoặc mới của cơ cấu nông nghiệp nước ta hồi đầu thế kỷ XX.
Từ đầu thế kỷ XX, nhiều colons người Pháp mở đồn điền trồng cây công nghiệp ,chủ yếu là cây cao su. Đầu thế kỷ XX, công nghiệp ô tô châu Au phát triển mạnh ,nhu cầu trồng cao su để làm vỏ ruột ô tô rất lớn đã khiến các nhà đầu tư pháp đổ xô vào miền Đông Nam bộ trồng cao su .
Ở Đồng Nai có các công ty SIPH, BIF, SPTR, SPH-X , LCD … đến khai thác đất trồng cây cao su .
Tính đến trước cách mạng Tháng Tám, tỉnh Biên Hoà có 57 đồn điền cao su :
- Quận Châu Thành có 10 đồn điền
- Quận Xuân Lộc có 15 đồn điền
- Quận Long Thành có 16 đồn điền
- Quận núi Bà Rá có 4 đồn điền
- Quận Tân Uyên có 12 đồn điền
Số chủ đồn điền người Việt ,người Hoa chưa đến 10 người, diện tích nhìn chung dưới 200 ha. Các tập đoàn tư bản Pháp như SIPH. SPTR, LCD … sở hữu các đồn điền lớn hàng nghìn ha ,họ thuê mướn kỹ sư ,giám đốc, nhân viên ky thuật …. Quản lý việc trồng tỉa và thu hoạch ,chế biến theo phương pháp tiên tien đương thời .Việc khai phá đất trồng chủ yếu dựa vào sức lao động thủ công vì giá nhân công bản xứ quá rẻ ,máy móc chưa được sử dụng bao nhiêu vì tỏ ra không có lợi .
Việc độc canh cây cao su theo kiểu tư bản chủ nghĩa được khẳng định, đây là bước ngoặc mới trong nông nghiệp Đồng Nai. Các nhà kinh doanh cao su trãi qua nhiều thữ nghiệm kỹ thuật, mày mò vấp nhiều thất bại, sửa chữa sai lầm ,đưa các tiến bộ khoa học mới vào tiến hành sản xuất và tiêu thu có kết quả .
Đồng Nai là một tỉnh miền Đông Nam bộ, có lịch sử lâu đời. Công cuộc khai phá của cư dân Việt trên vùng đất Đồng Nai đã diễn ra hàng ngàn năm. Các cộng đồng cư dân Việt đã cùng chung sức xây dựng, khai phá vùng đất trở thành một vùng kinh tế phát triển khá cao so với cả nước .
Vùng đất Đồng Nai có thể xem là một chiếc nôi của buổi bình minh xã hội loài người. Sự xuất hiện người cổ với nền văn minh tiền sử phát triển đã đánh dấu một thời kỳ lịch sử quan trọng trong tiến trình lịch sử của nhân loại .
Trong suốt 10 thế kỷ đầu công nguyên, theo các tác giả khảo cổ, vùng đất Đồng Nai chịu ảnh hưởng của nền văn minh Phù Nam, văn minh Chăm pa và văn minh Ang co. Đây là giai đoạn dân cư còn thưa thớt, sức sản xuất còn nhiều hạn chế, nhiều nơi là rừng núi chưa được khai thác .
Đến thế kỷ XVI – XVII, một đợt di cư lớn của cư dân người Việt vào Nam bộ, ven sông Đồng Nai bắt đầu có nhiều khu dân cư được hình thành .
Như vậy, tiến trình nhập cư của cư dân người Việt vào đất Đồng Nai – Gia Định đã diễn ra liên tục trong suốt gần một thế kỷ. Đến năm 1698, khi Nguyễn Hữu Cảnh theo lệnh của Nguyễn Phúc Chu vào kinh lược, thiết lập hệ thống quản lý hành chính ,tổ chức việc khai thác đất đai và ổn định trật tự xã hội .
Năm 1802, nhà Nguyễn thành lập. Nhà Nguyễn đã có nhiều chính sách khẩn hoang vùng đất phương Nam chưa được khai thác. Đồng Nai trong giai đoạn nầy, nhiều vùng đất hoang được khai thác .
Trong thời kỳ Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp, thực dân Pháp đã có nhiều đợt khai thác vùng đất bazan ở Đồng Nai để trồng các loại cây công nghiệp nhiệt đới phuc vụ cho nhu cầu thị trường, nhu cầu vơ vét thuộc địa của Pháp .
Trong suốt quá trình lịch sử hình thành vùng đất Đồng Nai, nhân dân các bộ tộc ở Đồng Nai đã cùng nhau chung sức khai phá vùng đất màu mỡ để phục vụ cuộc sống, phục vụ sản xuất. Cư dân Đồng Nai đã để lại nhiều công trình sản xuất, nhiều di tích lịch sử tạo điều kiện cho sự phát triển của vùng đất Đồng Nai trong tương lai.
Đoàn Luyến
¬¬¬¬¬{{{¬¬¬¬¬
&&&
1. Nguyễn Thế Anh , Kinh tế và xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn , Sài Gòn 1971.
2. Nguyễn Thế Anh , Việt Nam dưới thời Pháp đô hộ ,Sài Gòn 1974.
3. Ban chỉ đạo lễ kỷ niệm 300 năm vùng đất Biên Hoà – Đồng Nai , Biên Hoà – Đồng Nai 300 năm hình thành và phát triển , Nhà xuất bản Đồng Nai ,1999
4. Tôn Thị Diệp – Báo cáo khoa học đề tài :”Cù lao Phố từ thế kỷ XVII - XVIII”
5. Phạm Cao Dương , Thực trạng của giới nông dân Việt Nam dưới thời Pháp thuộc , Sài Gòn 1966.
6. Huỳnh Lứa chủ biên , Lịch sử khai phá vùng đất Nam bộ, Nxb TP.HCM,1987.
7. Huỳnh Lứa ,Vài nét về cuộc di chuyển dân cư và khai thác những vùng đất mới ở Đồng Nai – Gia Định vào nửa đầu thế kỷ XVII- XVIII ,Nghiên cứu lịch sử sô’3, tháng 5,6/1978.
8. Lê Minh , Đồng bằng sông Cửu Long , Nxb TP.HCM, 1984.
9. Sơn Nam ,Lịch sử khẩn hoang miền Nam , Sài Gòn 1973
10. Vũ Huy Phúc , Tìm hiểu chế độ ruộng đất Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX , Nxb Khoa học Xã hội , Hà Nội 1979.
11. Trần Hiếu Thuận , Xưa và Nay , số 36 B , tháng 2 / 1997
12. Nguyễn Khánh Toàn , Lịch sử Việt Nam , tập I , tập II, Nxb Khoa học xã hội ,Hà Nội , 1972,1985.
13. Chu Thiên ,Chính sách khẩn hoang của triều Nguyễn , Nghiên cứu lịch sử số 56, tháng11/1963.
14. Viện Khoa học xã hội , Một số vấn đề khoa học xã hội về đồng bằng sông Cửu Long , Nxb Khoa học xã hội , Hà Nội ,1982.
¬¬¬¬¬{{{¬¬¬¬¬
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét